Hôm qua chương trình thời sự dành hơn 15 phút nói về chiến lược cải tạo cơ cấu nông nghiệp của Việt Nam trong bối cảnh biến đổi khí hậu khắc nghiệt, sau đó là các tin về bão lũ đang tràn về cả nước (đặc biệt là các tỉnh miền Trung). Ngồi nghe và ngẫm nghĩ một hồi, nhận ra có một sợi dây liên kết giữa các tin tức trên nên quyết định viết nên post này để chia sẻ tâm tư.

Đầu tiên, phải kể đến hình ảnh con tôm của vùng ĐBSCL được đưa lên làm trọng tâm cho câu chuyện phát triển nông nghiệp: Bộ Nông nghiệp mong muốn đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu tôm từ mức hiện tại là 4 tỉ USD/năm tới khoảng 8-10 tỉ USD/năm trong tương lai. Chưa bao giờ việc nuôi trồng tôm lại dành được nhiều sự quan tâm từ chính quyền như thế. Điển hình là trong phóng sự đưa tin có một đoạn bác Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp đứng lên phát biểu về chính sách tái cơ cấu nông nghiệp cho vùng ĐBSCL. Không hiểu sao đúng lúc quay trực tiếp bác nói thì giọng bác lại bị làm nhỏ lại, mình căng tai nghe chữ được chữ mất, nhưng đại ý là bác nhấn mạnh việc trước đây ưu tiên nông nghiệp ở ĐBSCL bao giờ cũng là lúa nước, cây thực phẩm, cây ăn quả, rồi mới đến nuôi trồng thuỷ sản. Tuy nhiên đã đến lúc cần phải thay đổi, đưa thuỷ sản lên làm mối quan tâm đầu tư cao nhất.

Vậy tại sao lại là con tôm? Cô phóng viên truyền hình đưa ra 2 luận điểm sau: Thứ nhất, con tôm có giá thị trường cao hơn rất nhiều so với cây lúa. 1 kg tôm bán với giá bằng 20 kg gạo, tội gì lại không chuyển sang nuôi tôm? Thứ hai, tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết thất thường làm đất ở vùng ĐBSCL bị nhiễm phèn, nhiễm mặn nhiều, cây lúa bị mất mùa trầm trọng. Tóm lại, theo đúc kết của cô phóng viên, tái cơ cấu nông nghiệp là làm cho người nông dân không chỉ sản xuất những thứ họ có thể, mà tạo ra những sản phẩm thị trường mong muốn. “Thị trường” ở đây, tuy không nói rõ, nhưng đặt trong bối cảnh thương mại hoá toàn cầu hoá, ý muốn chỉ các nước đã phát triển như Mỹ, Nhật, Úc, các nước châu Âu v..v, nơi mà hàng trăm tấn tôm Việt Nam được xuất đến gần như là mỗi ngày từ các cảng lớn.

Nói đơn giản, đài truyền hình VN đã dùng câu chuyện thị trường để nói về con tôm ĐBSCL nói riêng cũng như định hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam nói chung. Bản tin thời sự tối nay vì thế làm mình liên tưởng ngay tới chuyến công tác ngắn ngày ở Cà Mau vừa rồi, khi mình có cơ hội được tiếp xúc với các bên tham gia trong chuỗi nuôi trồng tôm sinh thái thí điểm ở Cà Mau. Yêu cầu nuôi tôm sinh thái là vừa phải nuôi thả tôm tự nhiên dưới tán rừng, không dùng thức ăn công nghiệp hay hoá chất, vừa phải đảm bảo bảo vệ rừng và tái trồng rừng để diện tích rừng ngập mặn đạt ít nhất 40% trong diện tích nuôi tôm. Mặc dù động cơ của việc phát động nuôi tôm sinh thái, trên lý thuyết là để khắc phục tình trạng phá hoại môi trường trầm trọng ở Cà Mau trong những năm vừa qua (chủ yếu là khai thác rừng trái phép và chặt rừng để lấy chỗ nuôi tôm), nhưng khi nói chuyện với các nông hộ cũng thương lái trong chuỗi tôm sinh thái, phần lớn mọi người nêu lí do tham gia chương trình là vì tin tưởng giá tôm sinh thái bán được cao hơn so với tôm thường trên thị trường. Nỗi lo về nuôi trồng và mua bán tôm sinh thái, xoay lui xoay tới cũng chỉ là bài toán thị trường, làm sao để bán được tôm giá cao. Hiếm lắm mới có được một hai bác nhắc đến việc bảo vệ rừng ngập mặn là ưu tiên quan trọng cần đầu tư giải quyết. Giật mình nhận ra 2 chữ “thị trường” ngấm sâu và ăn mòn vào tiềm thức ta sao sâu và rộng quá, từ chính quyền tới doanh nghiệp, từ người nuôi, người bán tới người mua, ai ai cũng chỉ nghĩ nhiều tới chữ “giá”!

14409644_1203500793026346_696989091947212732_o

(Tên gọi “Cà Mau” bắt nguồn từ tiếng Khmer ‘Tuk Kha-mau”, có nghĩa là “nước đen” – màu nước đặc trưng do lá rụng từ thảm rừng tràm U Minh đem lại. Tuy nhiên ngày nay khi nhìn xuống Cà Mau từ trên máy báy thì chỉ thấy các ô vuông nuôi tôm chứ không còn thấy màu xanh của rừng nữa…)

Mục đích chính của mình trong note này là muốn kể thêm một câu chuện khác ngoài 2 chữ “thị trường”, đó là câu chuyện sinh thái.

Để kể câu chuyện này, mình tạm thời rời con tôm và vùng ĐBSCL để đi lên Tây Nguyên, nơi mà cũng theo tin thời sự tối qua, đang hứng chịu nhiều đe doạ về những trận lũ to sắp tới.Thứ 7 vừa rồi, mình có cơ hội được đi nghe nhà văn Nguyên Ngọc – người viết tác phẩm Rừng Xà Nu in trong SGK Ngữ Văn lớp 12 – chia sẻ về những hiểu biết cũng như ân tình của bác đối với vùng đất và con người Tây Nguyên. Bản thân bác đã sống ở Tây Nguyên trong hơn 30 năm chiến đấu qua 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Phủ nhận hoàn toàn những định kiến đại chúng rằng người Tây Nguyên sống lạc hậu, nghèo khổ giữa rừng rú, bác Nguyên Ngọc khẳng định: Văn hoá Tây Nguyên là một nền văn minh, đại diện cho một triết lý sống nên có và cần có giữa con người và thiên nhiên. Ở Tây Nguyên trước đây, con người, rừng và đất sống cùng nhau trong một thế cân bằng hoà hợp: Con người sinh ra và lớn lên trong sự nuôi dưỡng và bảo bọc của rừng và đất (Đối với người Tây Ngyên, rừng là đất và đất là rừng). Người Tây Nguyên vì thế đối đãi với rừng như mẹ, như một sức mạnh thiêng liêng cần được thờ phụng và gìn giữ. Một ví dụ cụ thể bác Nguyên Ngọc đưa ra là cách người Tây Nguyên làm nông trong giai đoạn trước năm 1975: họ tuyệt đối không cày đất, bón phân hay thậm chí rất ít khi nhổ cỏ. Người Tân Nguyên tin tưởng sự cân bằng sinh thái và sức mạnh thiên nhiên sẽ tự tạo ra nguồn dinh dưỡng cần thiết cho đất và cây trồng. Đáng tiếc thay, sau năm 1975, khi những chính sách phát triển kinh tế của nhà nước cho phép người Kinh ồ ạt kéo lên vùng Tây Nguyên để chặt cây rừng, khai thác gỗ và trồng cây công nghiệp, rừng và đất ở Tây Nguyên dần bị tàn phá ngoài tầm kiểm soát. Bác Ngọc bảo, người Tây Nguyên coi rừng là mẹ, nhưng người Kinh chỉ coi rừng là gỗ thôi!

Câu chuyện sinh thái của vùng đất Tây Nguyên được liên tưởng tới triết lý nông nghiệp của ông Masanobu Fukuoka trong tác phẩm “Cuộc cách mạng một cọng rơm” (cuốn sách mới được in lại với lời mở đầu thêm của nhà văn Nguyên Ngọc). Là một nhà nghiên cứu chuyển sang làm nông dân, ông Fukuoka dành hơn nửa đời mình phát triển và đấu tranh cho phương thức nông nghiệp “không-làm-gì-cả”. Tương tự như các làm nông của người Tây Nguyên, phương pháp này cũng đặt trong triết lý sống hoà hợp, tôn trọng và khiêm nhường với tự nhiên, với trời đất: khi làm nông nên hạn chế tối đa những tác động của con người lên thiên nhiên, như cải tạo đất hay dùng các hoá chất kháng sinh, tăng trưởng vv. Những lo sợ về đất bạc màu hay sâu bệnh làm mất mùa là không cần thiết, vì suy cho cùng gốc rễ nảy sinh của các vấn đề về đất hay sâu bệnh chính là do con người động tay quá nhiều với các kỹ thuật canh tác hiện đại, các phát minh hoá học, các loại thuốc diệt trừ sâu bệnh, nhằm mục đích gia tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, nhưng cuối cùng lại chỉ làm phá vỡ hệ cân bằng sinh thái tự nhiên, vốn đã có hệ thống nuôi dưỡng đất và giải quyết các con sâu bệnh của riêng nó. Trong câu chuyện sinh thái, con người tự gây ra những mầm hoạ trong cuộc sống của mình, sau đó lại phải loay hoay tìm cách khắc phục.

Ông Fukuoka phát biểu trong sách “Cuộc các mạng một cọng rơm” rằng: “Con người với sự can thiệp của họ đã làm một điều gì đó sai trái, để lại sự hư hại mà không được sửa chữa, và khi những hệ quả bất lợi chất chồng, lại dùng mọi nỗ lực để sửa sai. Khi những hành động sửa sai đó có vẻ thành công, họ đi đến xem những biện pháp này là những thành tựu hay ho” Hãy cùng dùng góc nhìn sinh thái này để nhìn nhận lại những vấn đề mà bản tin thời sự đưa ra tối nay: Đài bảo rằng vì biến đổi khí hậu nên cây lúa mất mùa, lũ ồ ạt ập tới, rằng “Trái Đất đang đe doạ con người với những thiên tai,” nhưng lại để mất đi bức tranh toàn cảnh lớn hơn về những tác động tàn phá của chính chúng ta đối với tự nhiên: Những chính sách công nghiệp hoá, thương mại hoá, hiện đại hoá không đi chung với ý thức bảo vệ môi trường, chỉ muốn vắt kiệt tài nguyên thiên nhiên nhưng lại không có ý thức kiểm soát và bảo tồn, dẫn đến sự san bằng bao cánh rừng, từ rừng ngập mặn ĐBSCL tới rừng Tây Nguyên, đất mất đi sự bảo vệ của rừng nên bị xói mòn, nhiễm phèn nhiễm mặn, bờ biển xâm thực, chẳng lạ gì thiên tai bão lũ tha hồ càng quét. Các “nỗ lực sửa sai” của chúng ta đã đi đến đâu? Câu trả lời từ bản tin thời sự hôm nay “đơn giản” là, trồng lúa không được thì đẩy mạnh đầu tư kỹ thuật chuyển sang nuôi trồng tôm, cây này trồng mất mùa thì chuyển sang trồng cây nào bán được lời hơn!

Tóm lại trong note này mình đã cố gắng nêu ra 2 câu chuyện: Câu chuyện thị trường là chính sách đẩy mạnh nuôi trồng thuỷ sản ở vùng ĐBSCL, là người Kinh nhìn rừng thấy gỗ, nhìn tôm sinh thái thấy giá cao, là con người khai thác thiên nhiên, khống chế, đạp đổ các quy luật tự nhiên để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và chiếm hữu vô hạn của riêng mình. Đây là câu chuyện, ý thức hay không ý thức, vẫn đã và đang ăn dần vào nếp sống và suy nghĩ của chúng ta từng ngày.Trong khi đó, câu chuyện sinh thái là sự hoà hợp bền vững giữa con người và đất rừng Tây Nguyên, là cách người Tây Nguyên coi rừng như mẹ, là phương pháp làm nông “không-làm-gì-cả” của ông Fukuoka, là con người sống trân trọng, chan hoà với thiên nhiên và nhận thức được vai trò nhỏ bé của mình trong một hệ thống sinh thái rộng lớn. Tiếc thay, câu chuyện này hay bị lãng quên hoặc gạt qua một bên.

Cái vòng mâu thuẫn luẩn quẩn chúng ta đang gặp phải chính là dùng câu chuyện thị trường để giải quyết, thậm chí đàn áp, câu chuyện sinh thái trong cách ta nhận thức và hành động. Thiết nghĩ thảm hoạ lớn nhất mà con người đang phải đối đầu không phải là những đe doạ của biến đổi khí hậu, mà là thảm hoạ trong cách ứng xử với tự nhiên của con người (không chỉ của chính quyền mà của chính mỗi cá nhân chúng ta), là sự khủng hoảng của các giá trị sinh thái trong sự thắng thế của các giá trị thị trường, để những lối sống sinh thái chân thực như của người Tây Nguyên hay cách làm nông của ông Fukuoka nhiều lúc bị coi là lạc hậu, ấu trĩ, trong khi những toan tính để tăng lợi nhuận, tăng năng suất bằng phun thuốc hoá học, mở rộng thị trường bằng việc đảo lộn cơ cấu nông nghiệp lại đang là những sự lựa chọn phổ biến.

Trong lời kết của buổi chia sẻ về Tây Nguyên, bác Nguyên Ngọc bảo rằng một trong những cách để khắc phục những tàn phá môi trường ở khu vực Tây Nguyên chính là khuyến khích người Kinh khiêm nhường học hỏi cách sống với thiên nhiên từ người Tây Nguyên. Ngẫm kĩ lại, bác đã chỉ ra yêu cầu về sự thay đổi cần thiết nhất hiện nay nếu chúng ta muốn bảo vệ môi trường: Thay đổi về nhận thức. Chỉ khi nào ta học được cách nhìn nhận các giá trị sinh thái của “Rừng vàng biển bạc” ở Việt Nam như cách người Tây Nguyên nhìn rừng của họ, thay vì chỉ nhìn thấy những giá trị thuần kinh tế đại trà như hiện này, chỉ khi nào ta di chuyển từ cách sống “ego-centric” (xem con người là trọng tâm) sang “eco-centric” (xem sinh thái là trọng tâm), thì những nỗ lực xoay ngược lại phần nào những huỷ hoại môi trường do con người gây ra mới có thể bắt đầu phát huy hiện quả bền vững.

Tới đây xin được kết lại note bằng một câu nói được in trong lời giới thiệu của cuốn sách “Cuộc cách mạng một Cọng Rơm”:

“Cái cần thiết ở phía chúng ta là khả năng lắng nghe điều mà Trái Đất đang nói với chúng ta” (Thomas Berry)

Advertisements